Sáng 27-3, sau khi đến TP Cà Mau vài giờ, đoàn đã đến thăm Công viên Lâm viên 19-5, nơi có đền thờ Bác Hồ, mô hình nhà sàn - ao cá của Người và vườn chim tự nhiên. Dù mọi người còn hơi mệt sau chuyến hành trình xuyên đêm nhưng ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi...
Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012
Chuyến đi thực tế tại Cà Mau
Chiều ngày 27-3, trong chuyến đi thực tế của lớp C2 tại Cà Mau, lớp đã được Thành ủy, UBND thành phố Cà Mau tiếp và cung cấp những thông tin bổ ích về tình hình kinh tế - xã hội của thành phố và công tác xây dựng đảng của Đảng bộ.
Đồng chí Hồ Tấn Ngọc, Ủy viên Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND TP Cà Mau đã giới thiệu khái quát và sau đó các đồng chí lãnh đạo các ban đảng Thành ủy đã bổ sung thêm nhiều thông tin, cách làm, kinh nghiệm quý.
Dưới đây là một số hình ảnh của buổi làm việc:
Đoàn đặt thêm một số câu hỏi.
Đồng chí Hồ Tấn Ngọc trả lời thêm.
Chụp ảnh lưu niệm.
Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012
CA DAO THỜI BAO CẤP
- Lương chồng, lương vợ, lương con
- Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm
- Lương tâm đem chặt ra hầm
- Với rau muống luộc khen thầm là ngon.
- ----------------
- Ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương, làm việc bình thường
- ------------------
- Cây đinh phải đăng ký
- Trái bí cũng sắp hàng
- Khoai lang cần tem phiếu
- Thuốc điếu phải mua bông
- Lấy chồng nên cai đẻ
- Bán lẻ chạy công an
- Lang thang đi cải tạo
- Hết gạo ăn bo bo
- Học trò không có tập...
- -------------------
- Lao động là vinh quang
Lang thang là chết đói
Hay nói thì ở tù
Lù khù thì đi kinh tế mới.
- ----------------
- Hoan hô các bác trồng cây
- Mười cây chết chín, một cây gật gù
- Các cháu có mắt như mù
- Mười cây chết tiệt, gật gù ở đâu?
- --------------------
- Thi đua làm việc bằng hai
- Để cho cán bộ mua đài mua xe
- Thi đua làm việc bằng ba
- Để cho cán bộ xây nhà lót sân
- -----------------------
- Bảo nắng mà trời lại mưa
- Mấy thằng khí tượng đoán bừa hại tao
- Trời làm một trận mưa rào
- Mấy thằng khí tượng làm tao ướt rồi.
Nhất gạo nhì rau
Tam dầu tứ muối
Thịt thì đuôi đuối
Cá biển mất mùa
Đậu phụ chua chua
Nước chấm nhạt thếch
Mì chính có đếch
Vải sợi chưa về
Săm lớp thiếu ghê
Cái gì cũng thiếu....
-----------------------------
Cán bộ cao ăn cung cấp
Cán bộ thấp ăn chợ đen
Cán bộ quen ăn cổng hậu.
Tham khảo
Đô thị Việt Nam
Theo vi.wikipedia.org
Các đô thị tại Việt Nam là những thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập.
Phân loại đô thị
Tại Việt Nam, trước đây việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ[1]. Từ ngày 2 tháng 7 năm 2009, việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ[2]
Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt và từ loại I đến loại V. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP sử dụng số La Mã để phân loại đô thị, nhưng nhiều tài liệu vẫn dùng số Ả Rập: loại 1 đến loại 5.
Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:
- Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
- Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
- Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
- Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí đánh giá được nới lỏng hơn: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Đối với một số đô thị có tính chất đặc thù, tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.
Đô thị loại đặc biệt
Đô thị loại đặc biệt, trong cách phân loại theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP, là các đô thị:
- Giữ vai trò "trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước".
- Mật độ dân số nội đô bình quân từ 15.000 người/km² trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 90% trở lên.
- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.
Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Hải Phòng cũng đang được xem xét là đô thị loại đặc biệt vào năm 2020, muộn nhất là 2025. Để hỗ trợ chính quyền hai thành phố này hoàn thành chức năng của đô thị loại đặc biệt, Chính phủ cho Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hưởng một số cơ chế tài chính-ngân sách đặc thù[3].
Đô thị loại I
Đô thị loại I, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những đô thị giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại I gồm:
- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước.
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 500 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
- Mật độ dân số nội đô bình quân từ 12.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 85% trở lên.
- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.
Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. 8 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên và Nam Định.
Hải Phòng là đô thị trung tâm của vùng duyên hải Bắc Bộ, Đà Nẵng là đô thị trung tâm của miền Trung, Cần Thơ là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Thái Nguyên là trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc. Nam Định là trung tâm của vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Vinh và Huế là hai trung tâm của Bắc Trung Bộ. Đà Lạt và Buôn Ma Thuột là hai trung tâm của khu vực Tây Nguyên. Nha Trang và Quy Nhơn là hai trung tâm của Duyên hải Nam Trung Bộ.
Đô thị loại II
Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 800 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 300 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
- Mật độ dân số nội đô bình quân từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 8.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở nội đô từ 80% trở lên.
- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh.
Hiện nay có 11 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm: Biên Hòa; Hạ Long; Vũng Tàu; Việt Trì; Hải Dương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau.
Trong số 11 Đô thị loại II trên, Theo dự thảo chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2011-2020 được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng, có 4 đô thị sẽ được nâng lên loại I là: Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hạ Long (Quảng Ninh), Thanh Hóa (Thanh Hóa), Việt Trì (Phú Thọ); đưa tổng đô thị loại I cả nước lên 15 đô thị.[4]
- Quyền quyết định công nhận đô thị loại đặc biệt, loại I và loại II thuộc về thủ tướng chính phủ Việt Nam.[5]
Đô thị loại III
Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên.
- Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km² trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động nội đô từ 75% trở lên;
- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh. Tại thời điểm 7/8/2010, Việt Nam có 32 đô thị loại III. Đến 1/10/2010, Việt Nam có 35 đô thị loại III. Đến 9/2011 có 37 đô thị loại III.
Trong số 37 Đô thị loại III trên, Theo dự thảo chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2011-2020 được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng, có 15 đô thị loại III sẽ được nâng lên thành đô thị loại II, gồm Lào Cai (Lào Cai), Điện Biên Phủ (Điện Biên), Lạng Sơn (Lạng Sơn), Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), Móng Cái, Cẩm Phả (Quảng Ninh), Thái Bình (Thái Bình), Ninh Bình (Ninh Bình), Đồng Hới (Quảng Bình), Tuy Hòa (Phú Yên), Quảng Ngãi (Quảng Ngãi), Rạch Giá (Kiên Giang), Vị Thanh (Hậu Giang), Sóc Trăng (Sóc Trăng), Thủ Dầu Một (Bình Dương); đưa tổng đô thị loại II của Việt Nam lên 12-27 đô thị.[6]
Đô thị loại IV
Đô thị loại IV phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
- Chức năng đô thị: là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh.
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên.
- Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km² trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị đạt các tiêu chí quy định
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Các đô thị loại IV có thể là thị xã hoặc thị trấn.
- Quyền quyết định đô thị loại III và loại IV thuộc về Bộ Xây dựng Việt Nam xem xét, thẩm định và quyết định công nhận.[7]
Đô thị loại V
Đô thị loại V phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
- Chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã.
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên.
- Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km² trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động.
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ.
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Các đô thị loại V là thị trấn.
Chú thích
Tham khảo
Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012
Bài tham khảo
TỪ VỤ TIÊN LÃNG NGHĨ VỀ VIỆC ĐỐI THOẠI VỚI DÂN
NGUYỄN MINH HẢI
Vụ việc ở Tiên Lãng có thể xem là một sự việc đáng tiếc, bởi vì vụ việc này có thể tránh được nếu như các cơ quan chức năng ở huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang tổ chức đối thoại với dân một cách cầu thị, thiết thực.
Thông tin báo chí cho thấy, sự bất đồng, thậm chí tranh chấp, giữa gia đình ông Đoàn Văn Vươn (cùng một số gia đình khác) và chính quyền xã Vinh Quang và huyện Tiên Lãng đã diễn ra khá lâu. Trong thời gian đó, gần như không có cuộc đối thoại với tính cách là gặp gỡ, trao đổi thẳng thắn, hiểu biết nhau, chia sẻ và thông cảm nhau. Bởi trong vụ việc này, ngoài nhu cầu, lợi ích khác nhau còn có cả cách hiểu và vận dụng pháp luật khác nhau, thậm chí có chỗ còn có thể xem là pháp luật (cụ thể là Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Tố cáo, một số quy định về tố tụng...) đã chưa có sự chặt chẽ. Lẽ ra trong bối cảnh đó, đôi bên cùng ngồi lại trao đổi, tìm hiểu rõ nhu cầu và lợi ích của nhau để có hướng giải quyết thỏa đáng thì gần như mỗi bên đã tự hành động theo cách của mình. Hậu quả đó không chỉ cho các cá nhân liên quan mà còn đối với chính quyền và hệ thống chính trị nói chung.
Mặt khác, trong quá trình tổ chức thực hiện quyền hành chính của mình, chính quyền xã và huyện cũng tỏ ra chưa thực sự tôn trọng dân, chưa lắng nghe ý kiến dân một cách cầu thị và có trách nhiệm. Vì vậy, những nguyện vọng và vướng mắc của người dân không được biết đến hoặc có biết đến nhưng không được quan tâm và giải quyết thấu đáo. Điều đó tạo ra sự mất lòng tin và bức xúc trong những gia đình bị cưỡng chế nói riêng và người ở địa phương nói chung.
Ngay cả đến khi tổ chức cưỡng chế, việc quan trọng trong buổi cưỡng chế vẫn là vận động, thuyết phục chứ không phải dùng công cụ trấn áp một cách quyết liệt và triệt để. Điều này không chỉ tạo điều kiện để người dân chấp hành quyết định cưỡng chế tự nguyện mà còn tránh gây thiệt hại về tính mạng và tài sản cho đôi bên (như đã diễn ra).
Thực tế cho thấy, trong nhiều vụ tranh chấp giữa chính quyền cơ sở và người dân, sự đối thoại là vô cùng cần thiết. Có đối thoại thì chính quyền mới nói được đầy đủ yêu cầu, mục đích hợp pháp, chính đáng của mình (nhiều khi chỉ nói được với một số đối tượng cụ thể với tính đặc thù riêng); còn người dân mới có cơ hội được nêu lên tâm tư, nguyện vọng, lợi ích (cả hợp pháp và chưa hợp pháp, cả chính đáng và chưa chính đáng) của mình. Từ đó, chính quyền có thể tiếp tục vận động, thuyết phục, hoặc điều chỉnh quyết định của mình sao cho đảm bảo lợi ích hài hòa, chính đáng, hợp pháp của cả nhà nước, nhà quản lý và người dân. Nhiều trường hợp đến ngay thời điểm tổ chức cưỡng chế, nếu chính quyền có biện pháp đối thoại hợp lý, người dân cũng đã tự nguyện bàn giao, không nhất thiết phải sử dụng công cụ trấn áp. Vì vậy, công tác tư tưởng và công tác dân vận phải được xem trọng đúng mức. Trong đó, chính quyền, người thực hiện quyền lực nhà nước, phải đặt mình vào vị trí của nhân dân để xác định cho đúng tính chất vụ việc cũng như nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Như vậy, trong quản lý nhà nước, chính quyền cơ sở cần sử dụng đồng thời cả các phương pháp vận động - giáo dục - thuyết phục, kinh tế chứ không chỉ có biện pháp hành chính – mệnh lệnh – cưỡng chế, trong từng hoàn cảnh và đối tượng cụ thể. Có như vậy mới hạn chế tạo ra sự mâu thuẫn, tranh chấp không đáng có giữ nhà quản lý và nhân dân cũng như tránh gây ra xung đột đáng tiếc.
Vụ việc Tiên Lãng có thể xem là một bài học lớn trong việc mở rộng dân chủ cũng như phát huy cơ chế đối thoại hai chiều giữa chính quyền cơ sở với nhân dân.
Bài đã đăng báo Sài Gòn Giải phóng ngày 9-2-2012
Bài tham khảo
CHÀO NĂM NHÂM THÌN:
NĂM MỚI – NIỀM VUI MỚI, THÁCH THỨC MỚI
NGUYỄN MINH HẢI
Năm 2012 gọi theo âm lịch là Nhâm Thìn. Với lịch tính theo chu kỳ quay của mặt trăng hiện được nhiều nước châu Á sử dụng, Nhâm là một trong số 10 can của Thiên can; Nhâm chỉ hạt quả (trái) cây được phát tán rộng rãi khắp nơi, bắt đầu chuẩn bị nảy mầm. Thìn là một trong số 12 chi của Địa chi; Thìn mang ý nghĩa là phấn chấn, chỉ trạng thái bao phủ của thực vật trên khắp mặt đất. Như vậy, Nhâm Thìn là năm mà cây cối sinh sôi, hiểu rộng ra là năm rơi vào chu kỳ mà vạn vật phát triển mạnh mẽ. Năm Thìn tương ứng với rồng.
Quan niệm Á Đông cho rằng rồng là con vật hùng mạnh và được kính trọng nhất trong số mười hai con giáp. Nó tượng trưng cho tham vọng và thống trị, đồng thời là con vật linh thiêng và mang tính thần thánh. Vì vậy, người sinh vào năm Thìn được cho là tràn đầy năng lượng và sức mạnh, là “năm tốt”. Ở một số nước, rồng tượng trưng cho hoàng đế hoặc quyền lực, chỉ sự thịnh vượng, cát tường.
Đặt yếu tố quan niệm truyền thống qua một bên, nhìn bằng con mắt duy vật biện chứng từ những điều thực tế, năm Nhâm Thìn 2012 ở nước ta quả là có những thuận lợi, thể hiện ở:
Thứ nhất, năm 2012, sau khoảng trên dưới 1 năm hoàn tất đại hội đảng các cấp, tiến hành thành công cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, định hướng phát triển kinh tế – xã hội nhiệm kỳ mới với bộ khung lãnh đạo mới rõ ràng là tạo nên sức sống mới. Sau thời gian thích nghi, ổn định, năm mới này sẽ thực sự tăng tốc để thúc đẩy địa phương, ngành và đất nước phát triển.
Thứ hai, ở tầm vĩ mô, nhiều chủ trương, chính sách được triển khai từ năm 2011 sẽ tiếp tục được duy trì và phát huy kết quả tích cực trong năm mới. Chẳng hạn, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh càng đi vào chiều sâu với tính chất thường xuyên và hàng ngày; hay Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội đã đạt kết quả rất tích cực về nhiều mặt...
Thứ ba, một số biểu hiện trong quản lý, điều hành được nhân dân tin tưởng. Trong đó, vai trò của Quốc hội khóa XIII được cho là có nhiều nét mới, từ chương trình hoạt động đến không khí tranh luận, chất vấn. Một số vấn đề lớn như xây dựng Luật Biểu tình, vấn đề chủ quyền Hoàng Sa... được nêu công khai, thể hiện quan điểm mới, phù hợp với nguyện vọng nhân dân. Hoạt động đối ngoại sôi động, tích cực, tiếp tục khẳng định vị thế nước ta trên trường quốc tế.
Ở TP.HCM, không khí lạc quan, phấn khởi càng thể hiện rõ. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng ổn định và làm đầu tàu cho cả nước. Một công trình mang tầm cỡ khu vực là Đường hầm sông Sài Gòn được khánh thành làm nức lòng người dân thành phố. Một số chương trình xã hội thiết thực, hiệu quả và mang tính nhân văn sâu sắc đã được triển khai trong năm 2011 và sẽ còn tiếp tục phát huy trong năm 2012 như bình ổn giá một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, không tăng giá nhà trọ cho sinh viên – công nhân khó khăn, chăm lo cho người lao động nghèo vui Tết...
Có thể nói, năm 2012 là một năm tốt lành. Niềm tin đó xuất phát từ những chủ trương, chính sách (cũng là nguyện vọng của Đảng, Nhà nước và toàn dân) và kết quả thực tế đã diễn ra (sự nỗ lực của toàn hệ thống chính trị và sự hài lòng của người dân).
Tuy nhiên, niềm vui mới cũng đi liền với những thách thức mới. Thách thức đó bao gồm cả những yếu tố khách quan lẫn chủ quan.
Mặt khách quan là những biến động khó lường của tình hình kinh tế thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa, sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau là rất rõ nét; trong khi đó, sự suy thoái kinh tế vẫn diễn biến phức tạp. Khủng hoảng nợ ở châu Âu dĩ nhiên ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu và thu hút đầu tư của Việt Nam. Ở trong nước, tình hình thiên tai, dịch bệnh cũng luôn khó dự báo và thường ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế. Hay vấn đề biển Đông cũng tiềm ẩn những căng thẳng không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao mà còn tác động đến tâm tư, tình cảm của người dân.
Mặt chủ quan vẫn là những hạn chế trong quản lý, điều hành cũng như những khuyết tật của nền kinh tế. Năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn diễn ra, có lúc có nơi gây nên những bức xúc trong nhân dân. Việc phát triển kinh tế theo chiều rộng dẫn đến thâm dụng vốn, làm nạn lạm phát trở nên khó kiềm chế, đồng thời tác hại đến môi trường tự nhiên lẫn môi trường sống... là những khiếm khuyết cần sớm khắc phục.
Năm mới, tư tưởng lạc quan là chủ đạo. Nhưng cũng không vì thế mà không nhìn thẳng vào sự thật, mạnh dạn tìm ra những thiếu sót, hạn chế mà có phương phướng sửa chữa phù hợp. Trên tinh thần đó, năm Nhâm Thìn sẽ tạo tiền đề cho đất nước phát triển mạnh mẽ, sớm hóa rồng, điều mà hơn ngàn năm trước, cha ông ta đã mong mỏi!
20 NĂM SAU
Có một phần mềm dự báo gương mặt con người sau 20 năm
Trang web in20years.com (http://in20years.com/) cung cấp những công cụ giúp người dùng hình dung khuôn mặt họ sẽ thay đổi như thế nào sau 20 năm.
Chỉ cần tải lên một tấm ảnh, trang web này sẽ tự động xử lý và cho ra bức ảnh trong tương lai. Đầu tiên người dùng truy cập vào địa chỉ www.in20years.com, giao diện web sẽ hiện ra.
Sau đó tại ô Gender chọn giới tính Male (nam) hoặc Female (nữ); Age: chọn sau 20 hoặc 30 năm nữa và Drug Addict: có nghiện thuốc hay không.
Tiếp theo nhấp Upload Your Photo rồi nhấp tiếp nút Browse để chọn đến file ảnh trên máy tính của bạn.
Lưu ý là phải chọn ảnh chân dung chụp rõ gương mặt, nên chọn ảnh chụp trực diện. Nếu chương trình không nhận diện được khuôn mặt thì sẽ báo lỗi.
Lúc đó bạn phải thay một tấm ảnh khác hiển thị rõ gương mặt hơn. Nếu ảnh được chấp nhận thì trang web sẽ tự động được chuyển qua trang kết quả. Tại đây bạn sẽ thấy được khuôn mặt của mình sau 20 năm nữa sẽ trông như thế nào.
Tiến hành Save image để tải ảnh thành phẩm về. Nếu muốn làm tiếp ảnh khác thì vào mục Upload New Photo và thực hiện thao tác tương tự như ảnh trước.
Mục Photo URL giúp người dùng liên kết chia sẻ ảnh với bạn bè. Nếu chọn Yes ở mục Drug Addict thì gương mặt sẽ già và nhăn hơn nhiều so với không người không nghiện thuốc lá.
Các bạn thử nhé!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)